The post Nhà mạng AT&T chi 48,5 tỉ USD thâu tóm DirecTV appeared first on Hồng Hà.
]]>
Thành lập năm 1994, trải qua nhiều cuộc bể dâu, DirecTV hiện là nhà cung cấp truyền hình vệ tinh số 1 tại Mỹ với 20 triệu khách hàng, và gần 18 triệu người dùng ở châu Mỹ La tinh. Trong khi đó, AT&T đang sở hữu 11 triệu thuê bao Internet, và theo Reuters, nhà mạng kỳ vọng có thêm 15 triệu khách hàng đăng ký Internet băng thông rộng trong bốn năm kế tiếp sau khi hoàn tất thương vụ thâu tóm này.Trước đó giữa tháng 2, Comcast tuyên bố thâu tóm Time Warner Cable với 45 tỉ USD trong tham vọng nắm 30% thị phần truyền hình cáp, cũng như vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp thuê bao Internet.Tuy nhiên, cả hai thương vụ thâu tóm tỉ đô đều phải trải qua quá trình xem xét và phê duyệt từ các nhà quản lý vì những lo ngại vi phạm luật cạnh tranh, chống độc quyền. Các công ty đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn có thể bị đè bẹp. Dish Network, mạng truyền hình vệ tinh lớn thứ hai sau DirecTV với 14 triệu thuê bao là một minh chứng. Năm 2001, thậm chí Dish Network đã chào giá sáp nhập DirecTV nhưng bị từ chối bởi cơ quan quản lý.

Nhà mạng AT&T chi 48,5 tỉ USD thâu tóm DirecTV Biểu đồ số thuê bao truyền hình tại thị trường Mỹ
, và thương vụ giữa Comcast với Time Warner Cable có thể tạo ra một đại diện mới nắm đến 33 triệu thuê bao, vượt xa DirecTV và Dish Network – Nguồn: Reuters Năm 2011, AT&T cũng đã tung ra 39 tỉ USD để thâu tóm đối thủ là nhà mạng di động T-Mobile USA nhưng thương vụ cũng bất thành do không được chấp thuận.Giới phân tích cho rằng đây là bước đi lớn của AT&T nhằm mở rộng dịch vụ trên hạ tầng mạng băng rộng của mình, cụ thể là dịch vụ truyền hình và video trên di động. DirecTV cũng hưởng lợi vì có thể đưa dịch vụ truyền hình của mình vượt ra khỏi màn hình tivi, hiện diện trên bất kỳ thiết bị di động nào có kết nối Internet. Một dịch vụ xem trả phí video hay truyền hình theo yêu cầu (dạng OTT) có thể sẽ sớm ra mắt nếu thương vụ được thông qua.Nhà mạng AT&T chi 48,5 tỉ USD thâu tóm DirecTV Dịch vụ trả phí cung cấp video theo yêu cầu (OTT) của DirecTV – Ảnh: Bloomberg Đây là thương vụ thâu tóm lớn thứ ba trong lịch sử AT&T. Trước đó, nhà mạng này đã rước Ameritech Corp vào năm 1999 và con số thâu tóm gây ấn tượng mạnh là 83 tỉ USD dành cho BellSouth năm 2006.AT&T cho biết công ty cam kết tuân thủ các nguyên tắc của Luật trung lập Internet (Net Neutrality) trong ba năm, điều này đồng nghĩa với việc họ không chặn các website hay chọn lọc tăng hay giảm tốc độ lưu lượng truy cập Internet.
The post Nhà mạng AT&T chi 48,5 tỉ USD thâu tóm DirecTV appeared first on Hồng Hà.
]]>The post Hướng dẫn cài đặt cấu hình GPRS cho máy IWL appeared first on Hồng Hà.
]]>
Đặt cấu hình mạng để kết nối mạng được nhanh hơn. Tùy vào Simcard sử dụng (Vina, Vietel hay Mobi) mà cấu hình APN/LOGIN/PASSWORD có thể khác nhau, các thông số còn lại giống nhau. Cách thực hiện như sau:
1. Từ màn hình chờ, nhấn phím “.” Và nhập vào Password
2. TELIUM MANAGER -> Initialization -> Paramerters -> Network Access
3. Chọn GPRS.
4. Nhập APN: m3-world (VINAPHONE) m-wap (MOBIFONE) v-internet (VIETTEL)
5. Nhập LOGIN: mms (VINAPHONE) mms (MOBIFONE) để trống (VIETTEL)
6. Nhập PASSWORD: mms (VINAPHONE) mms (MOBIFONE) để trống (VIETTEL)
7. GATEWAY: Giữ nguyên (0),
8. STATE GPRS: chọn “Start Link PPP” — chú ý phần này hay bị để thành “Auto connection”
9. TPE ON BASE: chọn “GPRS/GSM”
10. HEADER INFO: chọn “Provider”
11. FALLBACK NETWORK: chọn “No”
12. DONE
, REBOOT TERMINAL!
The post Hướng dẫn cài đặt cấu hình GPRS cho máy IWL appeared first on Hồng Hà.
]]>The post “Quẹt” thẻ ATM qua máy POS: Thanh toán không dùng tiền mặt appeared first on Hồng Hà.
]]>POS là từ viết tắt tiếng Anh (Point of Sale) là các máy chấp nhận thanh toán thẻ. Máy cà thẻ POS và máy rút tiền tự động ATM đều có một điểm chung là giao dịch được qua thẻ ATM. Máy POS có những tính năng như có thể thanh toán tại các cửa hàng trung tâm thương mại, siêu thị, thanh toán các khoản dịch vụ như điện nước, điện thoại, bảo hiểm, thực hiện giao dịch như kiểm tra số dư… Máy có ưu điểm gọn nhẹ chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ, có thể dễ dàng lắp đặt nhiều nơi.

Sử dụng máy POS chủ thẻ chỉ cần “quẹt” thẻ lên máy được đặt tại quầy tính tiền, nhập số PIN, nhập số tiền cần thanh toán, sau đó ký tên xác nhận lên biên lai, hoàn tất quá trình thanh toán. Nhân viên tại các điểm giao dịch có trách nhiệm đối chiếu chữ ký của chủ thẻ với chữ ký trên thẻ nhằm bảo vệ quyền lợi và hạn chế rủi ro cho khách hàng. Mọi thao tác đều khá đơn giản, có sự hỗ trợ hướng dẫn của các nhân viên tại quầy giao dịch.
Song hành với lượng người dùng tăng thêm, đặc biệt sau khi có Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, là việc các ngân hàng cố gắng lắp đặt thêm nhiều máy ATM phục vụ khách hàng. Nhưng thật đáng tiếc, điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng đang đi ngược lại với mục tiêu điện tử hóa các giao dịch thanh toán. Bởi càng nhiều máy ATM đặt tại các trung tâm thương mại, người dùng càng dễ rút tiền mặt để thanh toán khi mua hàng. Cả người mua và người bán đều có thể giao dịch bằng tiền mặt qua máy ATM được đặt khắp mọi nơi. Trong khi để đầu tư vận hành một máy ATM tốn chi phí gấp nhiều lần so với máy POS.
ATM được xem là một ví tiền điện tử nhưng chưa phát huy được hết công dụng, vì muốn chi tiêu gì thì người dân thường vẫn phải ra máy ATM để rút tiền chứ khó có thể thanh toán bằng thẻ, đó là do các ngân hàng thiếu đầu tư cũng như chưa có sự liên doanh liên kết mạnh mẽ cho hệ thống POS. Văn minh thương mại chính là ở hệ thống POS chứ không phải ATM. ATM chỉ là cái máy thực hiện một số giao dịch ngân hàng
, còn POS gắn liền với ngành công nghiệp bán lẻ và dịch vụ.
Vòng quanh rất nhiều trung tâm, siêu thị lớn có thể dễ dàng nhận thấy lượng khách dùng thẻ thanh toán vô cùng ít ỏi, một nhân viên siêu thị cho biết: máy POS vẫn quá xa lạ với khách hàng, nên có khi cả tháng máy mới được “quẹt” vài lần. Giới trẻ là lực lượng khách hàng nhận ra sự chậm trễ này sớm nhất, khi đến rất nhiều nơi họ muốn thanh toán qua thẻ mà không được đáp ứng. Thanh Tuyên – một du học sinh vừa trở về từ Pháp cho biết: các nước tiên tiến đã sử dụng POS từ lâu rồi, tính hiệu quả thực sự to lớn và thấy rõ, người tiêu dùng chỉ việc mang thẻ ATM đến và quẹt vào các máy POS tại các cửa hàng siêu thị khi thanh toán. Ở Việt Nam thiếu sự liên kết nên thanh toán rất bất tiện, nên có khi một nơi có vài máy POS của vài ngân hàng nhưng thực tế lại ít sử dụng, vì thẻ của ngân hàng nào thì dùng máy của ngân hàng ấy. Ví như vào siêu thị có POS của ngân hàng ACB nhưng người tiêu dùng lại có ATM của ngân hàng BIDV thì không sử dụng được hoặc là bị tính phí cao hơn.
Hãy thay đổi thói quen dùng tiền mặt!

Khi xu hướng mua sắm ở các cửa hàng, trung tâm thương mại trở nên phổ biến, nhu cầu thanh toán bằng thẻ qua POS sẽ tăng nhanh, nên rất cần được khuyến khích sử dụng. Chính phủ, Ngân hàng và Nhà nước cần có những chỉ đạo cụ thể mang tính chất hành chính như mỗi tổ chức tín dụng khi phát hành bao nhiêu thẻ ATM thì phải đầu tư bao nhiêu máy ATM và bao nhiêu POS tương ứng. Thay vì việc mở rộng hệ thống ATM rất tốn kém, các ngân hàng nên mở rộng hệ thống POS là các máy chấp nhận thanh toán bằng thẻ, cả thẻ ATM và thẻ tín dụng. Khi ngân hàng đảm bảo cho hệ thống máy POS vận hành tốt, người dân dễ dàng rút thẻ quẹt vào máy POS để thanh toán tại khắp mọi nơi thì chắc chắn người ta chỉ cần giữ một ít tiền lẻ trong túi mà thôi. Có nghĩa là số lượng tiền lưu lại trong mỗi tài khoản sẽ tăng lên, điều này rất có lợi cho ngân hàng, thay vì có tiền là người ta rút hết, tránh phải trả chi phí cho mỗi lần rút nhỏ lẻ như hiện nay. Tiết kiệm chi phí giao dịch, giảm rủi ro sử dụng tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt còn mang lại lợi ích rất lớn nữa, đó là hạn chế tình trạng trốn thuế của các đơn vị, hộ kinh doanh, không muốn minh bạch nhận tiền thanh toán bằng thẻ, vì như thế sẽ khai báo chi tiết nguồn thu của họ trên sao kê tài khoản tại ngân hàng.
Phát triển hệ thống POS không phải là việc quá khó, các ngân hàng có thể hợp tác với các công ty để tận dụng POS nhằm giảm chi phí đầu tư, ngoài ra để kích thích xã hội hóa việc này cần giảm chi phí giao dịch. Ngân hàng cần liên kết sử dụng chung một máy chấp nhận nhiều loại thẻ, tránh tình trạng tại các điểm chấp nhận thẻ tồn tại nhiều loại máy của các ngân hàng khác nhau, gây ra sự lãng phí không cần thiết. Như vậy chỉ cần 1 đến 2 năm nữa thói quen sử dụng tiền mặt sẽ thay đổi và tiết kiệm cho xã hội rất nhiều.
Vì sao nên dùng thẻ ?
Câu trả lời ngắn gọn là: Tiện dụng và an toàn. Nói rõ hơn, trong các giao dịch thương mại cổ điển, việc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt (cash). Vì vận chuyển tiền mặt kèm theo nhiều rủi ro và bất tiện, người ta đã nghĩ ra các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, điển hình là thanh toán bằng séc (cheque), bằng thẻ (card) và bằng các phương thức viễn thông khác như telegraphic transfer (TTR).
Thế nào là thẻ tín dụng ?
Thẻ được chia ra nhiều loại tùy theo tính năng tác dụng của thẻ. Thẻ tín dụng (Credit Card) thực chất là bằng chứng của một mối quan hệ vay nợ giữa người cầm thẻ (Cardholder) và ngân hàng. Ngân hàng đồng ý cho người cầm thẻ vay tiền đến một mức tối đa nào đó (gọi là credit limit), thường là khoảng 2 lần thu nhập hằng tháng của người cầm thẻ. Tất cả các khoản thanh toán mà người cầm thẻ thực hiện sẽ được ghi nợ (debit) vào tài khoản của người cầm thẻ tại ngân hàng. Đến một ngày nhất định mỗi tháng, ngân hàng sẽ gửi thông báo đến cho người cầm thẻ, thống kê tổng số tiền đã chi trong tháng trước đó.
Ngoài thẻ tín dụng còn có loại thẻ khác gọi là Debit Card. Debit Card khác với Credit Card ở điểm căn bản nhất là không có quan hệ vay nợ, bạn có tiền trong tài khoản thì tiêu, hết thì thôi, không vay được.
Sử dụng thẻ tín dụng như thế nào?
Giả sử bạn có thẻ VISA. Một lần bạn đến một cửa hàng (Merchant) thấy có logo của VISA thể hiện cửa hàng nhận thanh toán bằng thẻ VISA, bạn mua hàng và yêu cầu thanh toán bằng thẻ của mình. Cửa hàng sẽ quẹt (swipe) thẻ của bạn vào một chiếc máy đọc (gọi là EDCT – Electronic Data Capture Terminal). EDCT đọc các thông tin về thẻ của bạn ghi trên băng từ và địa chỉ ngân hàng của cửa hàng (Merchant’s Bank) thông qua điện thoại hoặc các giao dịch khác gửi kèm theo yêu cầu về số tiền cần thanh toán, ngân hàng này kiểm tra trong cơ sở dữ liệu của VISA xem thẻ của bạn có phải là thẻ hết hạn hoặc bị mất cắp hay không, số tiền bạn muốn trả có vượt quá hạn mức không, nếu không, ngân hàng sẽ báo lại ngay trong vài giây về EDCT là giao dịch được phê duyệt (approved), khi đó EDCT sẽ in ra một tờ giấy nhỏ ghi rõ số tiền, mã số giao dịch để bạn ký vào đó (Sale Slip). Bạn được giữ bản chính của sale slip, cửa hàng sẽ giữ bản sao và gửi về ngân hàng để nhận tiền sau này. Nhận được bản ký của bạn, ngân hàng của cửa hàng (Merchant’s Bank) sẽ ghi có (credit) ngay số tiền giao dịch vào tài khoản của Merchant, đồng thời gửi thông báo qua mạng của VISA yêu cầu ngân hàng của bạn (Cardholder’s Bank) thanh toán số tiền. Ngân hàng của người cầm thẻ (Cardholder’s Bank) sẽ thanh toán tiền cho ngân hàng của cửa hàng (Merchant’s Bank) và debit số tiền vào tài khoản của bạn. Nói ra có vẻ rắc rối nhưng trong thực tế, việc giao dịch chỉ mất có vài giây.
Các loại thẻ ở Việt Nam ?
Tại Việt Nam, có 15 ngân hàng đang phát hành các loại thẻ mang thương hiệu quốc tế, dẫn đầu là Vietcombank, ACB, Techcombank, Sacombank… Các ngân hàng trong nước còn phát hành riêng thẻ ghi nợ nội địa, người Việt Nam quen gọi là thẻ ATM, thẻ này có phạm vi hoạt động trong quốc gia. Năm ngân hàng đứng đầu thị phần thẻ nội địa là Vietcombank, Agribank, Đông Á Bank, Vietinbank và BIDV với tổng thị phần chiếm hơn 90%. Hầu hết các loại thẻ mới phát hành đều có sẵn chức năng thanh toán trên ATM, POS… Còn các chức năng thanh toán khác, chủ thẻ có thể phải đăng ký với ngân hàng phát hành để được sử dụng.
Minh Chuyên(Nguồn Eac, OnePAY)
Hạnh Trang
Thẻ ATM chưa dùng hết tính năng
Trên thế giới từ lâu việc thanh toán bằng thẻ đã trở nên phổ biến và được người dân dùng rất linh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. Thẻ ATM không phải chỉ có tính năng để giao dịch trên các máy ATM thuần túy, mà nó còn được giao dịch tại rất nhiều thiết bị POS mà các ngân hàng triển khai tại các điểm chấp nhận thanh toán nó, các điểm này có thể là khách sạn, nhà hàng, siêu thị, cửa hàng xăng dầu…
POS là từ viết tắt tiếng Anh (Point of Sale) là các máy chấp nhận thanh toán thẻ. Máy cà thẻ POS và máy rút tiền tự động ATM đều có một điểm chung là giao dịch được qua thẻ ATM. Máy POS có những tính năng như có thể thanh toán tại các cửa hàng trung tâm thương mại, siêu thị, thanh toán các khoản dịch vụ như điện nước, điện thoại, bảo hiểm, thực hiện giao dịch như kiểm tra số dư… Máy có ưu điểm gọn nhẹ chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ, có thể dễ dàng lắp đặt nhiều nơi.
Sử dụng máy POS chủ thẻ chỉ cần “quẹt” thẻ lên máy được đặt tại quầy tính tiền, nhập số PIN, nhập số tiền cần thanh toán, sau đó ký tên xác nhận lên biên lai, hoàn tất quá trình thanh toán. Nhân viên tại các điểm giao dịch có trách nhiệm đối chiếu chữ ký của chủ thẻ với chữ ký trên thẻ nhằm bảo vệ quyền lợi và hạn chế rủi ro cho khách hàng. Mọi thao tác đều khá đơn giản, có sự hỗ trợ hướng dẫn của các nhân viên tại quầy giao dịch.
Song hành với lượng người dùng tăng thêm, đặc biệt sau khi có Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, là việc các ngân hàng cố gắng lắp đặt thêm nhiều máy ATM phục vụ khách hàng. Nhưng thật đáng tiếc, điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng đang đi ngược lại với mục tiêu điện tử hóa các giao dịch thanh toán. Bởi càng nhiều máy ATM đặt tại các trung tâm thương mại, người dùng càng dễ rút tiền mặt để thanh toán khi mua hàng. Cả người mua và người bán đều có thể giao dịch bằng tiền mặt qua máy ATM được đặt khắp mọi nơi. Trong khi để đầu tư vận hành một máy ATM tốn chi phí gấp nhiều lần so với máy POS.
ATM được xem là một ví tiền điện tử nhưng chưa phát huy được hết công dụng, vì muốn chi tiêu gì thì người dân thường vẫn phải ra máy ATM để rút tiền chứ khó có thể thanh toán bằng thẻ, đó là do các ngân hàng thiếu đầu tư cũng như chưa có sự liên doanh liên kết mạnh mẽ cho hệ thống POS. Văn minh thương mại chính là ở hệ thống POS chứ không phải ATM. ATM chỉ là cái máy thực hiện một số giao dịch ngân hàng, còn POS gắn liền với ngành công nghiệp bán lẻ và dịch vụ.
Vòng quanh rất nhiều trung tâm, siêu thị lớn có thể dễ dàng nhận thấy lượng khách dùng thẻ thanh toán vô cùng ít ỏi, một nhân viên siêu thị cho biết: máy POS vẫn quá xa lạ với khách hàng, nên có khi cả tháng máy mới được “quẹt” vài lần. Giới trẻ là lực lượng khách hàng nhận ra sự chậm trễ này sớm nhất, khi đến rất nhiều nơi họ muốn thanh toán qua thẻ mà không được đáp ứng. Thanh Tuyên – một du học sinh vừa trở về từ Pháp cho biết: các nước tiên tiến đã sử dụng POS từ lâu rồi, tính hiệu quả thực sự to lớn và thấy rõ, người tiêu dùng chỉ việc mang thẻ ATM đến và quẹt vào các máy POS tại các cửa hàng siêu thị khi thanh toán. Ở Việt Nam thiếu sự liên kết nên thanh toán rất bất tiện, nên có khi một nơi có vài máy POS của vài ngân hàng nhưng thực tế lại ít sử dụng, vì thẻ của ngân hàng nào thì dùng máy của ngân hàng ấy. Ví như vào siêu thị có POS của ngân hàng ACB nhưng người tiêu dùng lại có ATM của ngân hàng BIDV thì không sử dụng được hoặc là bị tính phí cao hơn.
Hãy thay đổi thói quen dùng tiền mặt!
Khi xu hướng mua sắm ở các cửa hàng, trung tâm thương mại trở nên phổ biến, nhu cầu thanh toán bằng thẻ qua POS sẽ tăng nhanh, nên rất cần được khuyến khích sử dụng. Chính phủ, Ngân hàng và Nhà nước cần có những chỉ đạo cụ thể mang tính chất hành chính như mỗi tổ chức tín dụng khi phát hành bao nhiêu thẻ ATM thì phải đầu tư bao nhiêu máy ATM và bao nhiêu POS tương ứng. Thay vì việc mở rộng hệ thống ATM rất tốn kém, các ngân hàng nên mở rộng hệ thống POS là các máy chấp nhận thanh toán bằng thẻ, cả thẻ ATM và thẻ tín dụng. Khi ngân hàng đảm bảo cho hệ thống máy POS vận hành tốt, người dân dễ dàng rút thẻ quẹt vào máy POS để thanh toán tại khắp mọi nơi thì chắc chắn người ta chỉ cần giữ một ít tiền lẻ trong túi mà thôi. Có nghĩa là số lượng tiền lưu lại trong mỗi tài khoản sẽ tăng lên, điều này rất có lợi cho ngân hàng, thay vì có tiền là người ta rút hết, tránh phải trả chi phí cho mỗi lần rút nhỏ lẻ như hiện nay. Tiết kiệm chi phí giao dịch, giảm rủi ro sử dụng tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt còn mang lại lợi ích rất lớn nữa, đó là hạn chế tình trạng trốn thuế của các đơn vị, hộ kinh doanh, không muốn minh bạch nhận tiền thanh toán bằng thẻ, vì như thế sẽ khai báo chi tiết nguồn thu của họ trên sao kê tài khoản tại ngân hàng.
Phát triển hệ thống POS không phải là việc quá khó, các ngân hàng có thể hợp tác với các công ty để tận dụng POS nhằm giảm chi phí đầu tư, ngoài ra để kích thích xã hội hóa việc này cần giảm chi phí giao dịch. Ngân hàng cần liên kết sử dụng chung một máy chấp nhận nhiều loại thẻ, tránh tình trạng tại các điểm chấp nhận thẻ tồn tại nhiều loại máy của các ngân hàng khác nhau, gây ra sự lãng phí không cần thiết. Như vậy chỉ cần 1 đến 2 năm nữa thói quen sử dụng tiền mặt sẽ thay đổi và tiết kiệm cho xã hội rất nhiều.
Vì sao nên dùng thẻ ?
Câu trả lời ngắn gọn là: Tiện dụng và an toàn. Nói rõ hơn, trong các giao dịch thương mại cổ điển, việc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt (cash). Vì vận chuyển tiền mặt kèm theo nhiều rủi ro và bất tiện, người ta đã nghĩ ra các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, điển hình là thanh toán bằng séc (cheque), bằng thẻ (card) và bằng các phương thức viễn thông khác như telegraphic transfer (TTR).
Thế nào là thẻ tín dụng ?
Thẻ được chia ra nhiều loại tùy theo tính năng tác dụng của thẻ. Thẻ tín dụng (Credit Card) thực chất là bằng chứng của một mối quan hệ vay nợ giữa người cầm thẻ (Cardholder) và ngân hàng. Ngân hàng đồng ý cho người cầm thẻ vay tiền đến một mức tối đa nào đó (gọi là credit limit), thường là khoảng 2 lần thu nhập hằng tháng của người cầm thẻ. Tất cả các khoản thanh toán mà người cầm thẻ thực hiện sẽ được ghi nợ (debit) vào tài khoản của người cầm thẻ tại ngân hàng. Đến một ngày nhất định mỗi tháng, ngân hàng sẽ gửi thông báo đến cho người cầm thẻ, thống kê tổng số tiền đã chi trong tháng trước đó.
Ngoài thẻ tín dụng còn có loại thẻ khác gọi là Debit Card. Debit Card khác với Credit Card ở điểm căn bản nhất là không có quan hệ vay nợ, bạn có tiền trong tài khoản thì tiêu, hết thì thôi, không vay được.
Sử dụng thẻ tín dụng như thế nào?
Giả sử bạn có thẻ VISA. Một lần bạn đến một cửa hàng (Merchant) thấy có logo của VISA thể hiện cửa hàng nhận thanh toán bằng thẻ VISA, bạn mua hàng và yêu cầu thanh toán bằng thẻ của mình. Cửa hàng sẽ quẹt (swipe) thẻ của bạn vào một chiếc máy đọc (gọi là EDCT – Electronic Data Capture Terminal). EDCT đọc các thông tin về thẻ của bạn ghi trên băng từ và địa chỉ ngân hàng của cửa hàng (Merchant’s Bank) thông qua điện thoại hoặc các giao dịch khác gửi kèm theo yêu cầu về số tiền cần thanh toán, ngân hàng này kiểm tra trong cơ sở dữ liệu của VISA xem thẻ của bạn có phải là thẻ hết hạn hoặc bị mất cắp hay không, số tiền bạn muốn trả có vượt quá hạn mức không, nếu không, ngân hàng sẽ báo lại ngay trong vài giây về EDCT là giao dịch được phê duyệt (approved), khi đó EDCT sẽ in ra một tờ giấy nhỏ ghi rõ số tiền, mã số giao dịch để bạn ký vào đó (Sale Slip). Bạn được giữ bản chính của sale slip, cửa hàng sẽ giữ bản sao và gửi về ngân hàng để nhận tiền sau này. Nhận được bản ký của bạn, ngân hàng của cửa hàng (Merchant’s Bank) sẽ ghi có (credit) ngay số tiền giao dịch vào tài khoản của Merchant, đồng thời gửi thông báo qua mạng của VISA yêu cầu ngân hàng của bạn (Cardholder’s Bank) thanh toán số tiền. Ngân hàng của người cầm thẻ (Cardholder’s Bank) sẽ thanh toán tiền cho ngân hàng của cửa hàng (Merchant’s Bank) và debit số tiền vào tài khoản của bạn. Nói ra có vẻ rắc rối nhưng trong thực tế, việc giao dịch chỉ mất có vài giây.
Các loại thẻ ở Việt Nam ?
Tại Việt Nam, có 15 ngân hàng đang phát hành các loại thẻ mang thương hiệu quốc tế, dẫn đầu là Vietcombank, ACB, Techcombank, Sacombank… Các ngân hàng trong nước còn phát hành riêng thẻ ghi nợ nội địa, người Việt Nam quen gọi là thẻ ATM, thẻ này có phạm vi hoạt động trong quốc gia. Năm ngân hàng đứng đầu thị phần thẻ nội địa là Vietcombank, Agribank, Đông Á Bank, Vietinbank và BIDV với tổng thị phần chiếm hơn 90%. Hầu hết các loại thẻ mới phát hành đều có sẵn chức năng thanh toán trên ATM, POS… Còn các chức năng thanh toán khác, chủ thẻ có thể phải đăng ký với ngân hàng phát hành để được sử dụng.
The post “Quẹt” thẻ ATM qua máy POS: Thanh toán không dùng tiền mặt appeared first on Hồng Hà.
]]>The post Cấm thu phụ phí khách thanh toán qua thẻ appeared first on Hồng Hà.
]]>Theo đó, các ngân hàng phải rà soát hàng quý hệ thống chấp nhận thẻ để phát hiện, xử lý các trường hợp thu phụ phí của khách hàng thanh toán qua POS, trốn thuế…
Thực tế cho thấy, nhiều cửa hàng dù chấp nhận thanh toán bằng thẻ nhưng lại tính phí 1%-3% trên hóa đơn với mỗi khách hàng. Trao đổi với VnExpress.net, đại diện Hội Thẻ Việt Nam khẳng định đây là việc trái với quy định. Theo ông
,về nguyên tắc, khách hàng không phải chịu phí tổn nào khi thanh toán qua thẻ bằng hình thức này.

Phó tổng giám đốc một ngân hàng có thị phần thẻ lớn nhất nhì trong hệ thống cho biết, quy định là vậy nhưng rất khó xử lý. Nguyên nhân theo ông là ngân hàng phải đưa ra nhiều khuyến khích để các cửa hàng dùng POS. Nếu xử phạt, họ sẵn sàng chuyển qua ngân hàng khác với những chính sách đang ngày một cạnh tranh.
Ngoài việc chấn chỉnh những sai phạm trong thanh toán qua POS, trong công văn chỉ đạo lần này, Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu khuyến khích hơn nữa việc thanh toán qua thẻ đối với người dân. Riêng với các ngân hàng thương mại, nhà điều hành yêu cầu tiếp tục phát triển mạng lưới POS tại các siêu thị, trung tâm mua sắm, cơ sở phân phối hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực vận tải, văn hóa, thể thao, du lịch, nhà hàng, khách sạn. Không chỉ vậy, sắp tới có thể triển khai từng bước lắp đặt POS tại bệnh viện, trường học, cửa hàng xăng dầu, xe buýt, trạm đăng kiểm, phối hợp với các đơn vị cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông.

Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cần phối hợp Kho bạc Nhà nước, các tổ chức liên quan để trả lương qua tài khoản kết hợp với đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán qua thẻ POS. Đến quý I/2013, gần hơn 1,8 triệu công, viên chức được trả lương qua tài khoản.
Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ngày càng giảm dần, từ 20,3% (năm 2004) xuống 14% (năm 2010) và đến nay còn khoảng 12%.
Đến nay, các ngân hàng cũng đầu tư 14.400 máy ATM và 116.700 thiết bị chấp nhận thanh toán để phục vụ nhu cầu không dùng tiền mặt này của người dân. Ước tính, cả nước có khoảng 62 triệu thẻ ATM đã được phát hành.
nguồn Vnexpress.net
The post Cấm thu phụ phí khách thanh toán qua thẻ appeared first on Hồng Hà.
]]>The post Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt appeared first on Hồng Hà.
]]>Ở Việt Nam, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ sử dụng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán đang có xu hướng giảm dần từ 20,3% năm 2004 xuống 14% năm 2010 và hiện còn khoảng 12%. Có hơn 65% đơn vị thực hiện chi trả lương qua tài khoản cho đến năm 2013.
Khi thanh toán không tiền mặt được khuyến khích và đưa vào như một phương thức thanh toán chính yếu trong xã hội sẽ đem lại nhiều lợi ích để thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Nó sẽ tạo sự minh bạch trong các khoản chi tiêu và giao dịch của Chính phủ, các đơn vị kinh doanh và cá nhân, giúp dòng chảy tiền tệ được lưu thông rõ ràng và trơn tru hơn.
Theo ông Arn Vogels, Giám đốc khu vực Đông Dương của MasterCard, trong mô hình 5 bước của một nền kinh tế chuyển đổi từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán điện tử (cụ thể bằng thẻ), Việt Nam đang dừng chân ở bước 2 và bước 3.

“Tức là người tiêu dùng đã ý thức sự hiện diện của thẻ, biết sử dụng thẻ trong các giao dịch hằng ngày nhưng vẫn chưa hình thành thói quen dùng thẻ thường xuyên”, ông Arn Vogels lý giải.
Có rất nhiều lý do dẫn đến việc làm chậm “Hành trình không tiền mặt” này ở Việt Nam, nhưng nguyên nhân chính là thói quen tiêu dùng tiền mặt đã trở thành truyền thống lâu đời của người Việt và quy mô giao dịch của các cá nhân còn hạn chế.
Ngoài ra sự hạn chế trong cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng không ít. Hiện tại
, cả nước có khoảng 120.000 điểm thanh toán chấp nhận thẻ (POS) trên tổng 90 triệu dân, chỉ chiếm khoảng 1% dân số và phần lớn các điểm này lại tập trung ở các thành phố trung tâm. Đây là con số khá thấp và cần được gia tăng để mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ. Nhưng chi phí trang bị thiết bị thanh toán thẻ POS khá đắt so với khả năng của các cửa hàng vừa và nhỏ, lên đến khoảng 600 USD một máy.
Nhiều ngân hàng tại Việt Nam đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking), đặc biệt là dịch vụ thẻ, đầu tư vào cơ sở hạ tầng để mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ (máy ATM và POS) nhằm thúc đẩy hành trình không tiền mặt. Đơn cử SCB vừa ra mắt sản phẩm thẻ SCB MasterCard nhằm cung cấp nhiều hơn các dịch vụ cho khách hàng, tạo thói quen chi tiêu, mua sắm theo xu hướng tiêu dùng hiện đại cho người dân. Không chỉ SCB mà nhiều ngân hàng tại Việt Nam như BIDV, VPBank, VIB, SHB, HDBank, VietCapital Bank…cũng phát hành MasterCard.

Thay vì chỉ rút tiền qua ATM, chuyển khoản như hiện nay, các ngân hàng đã tích hợp trên thẻ ATM các dịch vụ gia tăng như thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, mua vé máy bay, bảo hiểm, kết hợp với nhiều đối tác để phát hành thẻ đồng thương hiệu, đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn để đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt. Ví dụ bắt đầu từ ngày 20/12/2013, người tiêu dùng có thẻ MasterCard có thể mua xăng dầu mà không cần sử dụng tiền mặt tại 15 đại lý xăng dầu của Công ty CP Nhiên liệu Sài Gòn ở TP HCM
Ông Arn Vogels, Giám đốc khu vực Đông Dương của MasterCard.
ông Arn Vogels, Giám đốc khu vực Đông Dương của MasterCard
Ông Arn Vogels nhận xét Việt Nam có lợi thế về hạ tầng điện thoại, đặc biệt là điện thoại thông minh và Internet rất phát triển so với các nước trong khu vực. Wi-Fi phổ biến và được phủ sóng khắp nơi. Báo cáo của hãng nghiên cứu thị trường GFK, từ tháng 6/2012 – 6/2013 đã chỉ ra số lượng người dùng smartphone chiếm gần 20% dân số và có đến 41% số người dùng smartphone để mua sắm sản phẩm. Đây sẽ là nền tảng rất thuận lợi để đưa ra các giải pháp thanh toán điện tử.
MasterCard cũng đưa ra giải pháp dùng công nghệ mPOS có khả năng biến chiếc smartphone của người bán thành một chiếc máy đọc thẻ di động và chấp nhận thanh toán qua thẻ. Thiết bị này sẽ sử dụng mạng điện thoại để kết nối dữ liệu giữa thẻ với ngân hàng thanh toán và được mã hóa nhiều tầng, theo tiêu chuẩn an toàn giao dịch của MasterCard nên hoàn toàn an toàn cho người sử dụng.
Các công ty bảo hiểm ở Việt Nam sẽ là đối tượng tiềm năng để sử dụng công nghệ này, khi trên thực tế phương thức thanh toán và thu phí bằng tiền mặt của các đại lý hầu như đựơc tiến hành trực tiếp tại nhà người mua bảo hiểm. Chiếc máy mPOS nhỏ gọn này sẽ tăng tính tiện lợi cho các đại lý khi giao dịch với khách hàng.
Bên cạnh đó, ông Arn Vogels cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm việc trực tiếp với các đối tác như siêu thị, ngân hàng để đưa ra các chương trình ưu đãi, khuyến khích người dân chi tiêu thẻ, đồng thời nâng cao nhận thức người tiêu dùng để giảm dần thói quen sử dụng tiền mặt trong đời sống.
Ngoài ra, Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình này với việc làm gương cho người dân bằng các chi tiêu hằng ngày của mình qua hình thức thanh toán điện tử.
The post Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt appeared first on Hồng Hà.
]]>The post Phím tắt trong Word 2010 appeared first on Hồng Hà.
]]>1. các phím tắt sử dụng trên toàn tập tin:
CTRL + N : mở trang mới.
CTRL + O : mở tài liệu đã có.
CTRL + S : lưu tài liệu.
CTRL + W : đóng tập tin.
CTRL + X : cắt tài liệu khi bôi đen.
CTRL + C : chép đoạn văn bản bôi đen (copy).
CTRL + Z : khôi phục cái bị xóa nhầm.
CTRL + J : canh lề 2 bên.
CTRL + F2 : xem tài liệu trước khi in.
CTRL + P : in nhanh tài liệu.
CTRL + H : tìm và thay thế.
CTRL + D : chọn font chữ.
CTRL + A : bôi đen toàn bộ.
CTRL + G : nhảy đến trang số.
CTRL + M : tăng lề đoạn văn.
CTRL + ALT + HOME : xem nhanh tập tin.
CTRL + ALT + N/O/P : hiển thi màn hình ở chế độ Nomal/Outlien/Page_layout.
ALT + F4 : thoát khỏi ứng dụng.
CTRL + ESC : khởi động MenuStart.
CTRL + ] : phóng to chữ khi được bôi đen.
CTRL + [ : thu nhỏ chữ khi được bôi đen.
F2 : đổi tên file
2. các phím tắt đặc biệt:
ENTER : ngắt đoạn chuyển sang đoạn mới.
SHIFT + ENTER : ngắt dòng.
CTRL + ENTER : ngắt trang.
ALT + F10 : kích hoạt thanh công cụ chuẩn.
DELETE : xóa ký tự bên trái điểm chèn.
INSERT : bật chế độ chèn hay ghi chồng lên.
3. các phím tắt di chuyển trong tập tin:
CTRL + <—/—>: sang trái/phải một từ.
SHIFT + TAB : sang trái 1 ô trong bảng.
TAB : sang phải 1 ô trong bảng.
CTRL + ALT + PAGE UP : lên đầu cửa sổ.
PAGE UP/PAGE DOWN : cuộn lên or xuống 1 trang trong màn hình.
CTRL + PAGE DOWN : xuống cuối trang màn hình.
CTRL + END : xuống cuối tập tin.
SHIFT + F5 đến vị trí điểm chèn khi đóng tập tin lần trước.
4. các phím tắt để định dạng Paragraph:
CTRL + 1/2/5 : tạo khoảng cách dòng đơn/ đôi/ rưỡi.
CTRL + V : dán văn bản vào vị trí con trỏ.
CTRL + L/ R/ E : canh lề trái/ phải/ giữa.
CTRL + SHIFT + M : di chuyển tất cả các dòng của đoạn văn qua trái 1 bước.
CTRL + T :di chuyển tất cả các dòng của đoạn văn qua phải 1 bước.
CTRL + SHIFT + Q : hủy bỏ kiểu định dạng đoạn.
CTRL + SHIFT + S : thay đổi style (thanh công cụ định dang hiển thị).
CTRL + SHIFT + N : áp dụng cho style Nomal.
CTRL + SHIFT + : 1/2/3 : áp dụng cho style nomal 1/2/3.
CTRL + SHIFT + : áp dụng cho style list.
5. phím tắt dùng cho định dạng ký tự:
CTRL + SHIFT + F : thay đổi font chữ.
CTRL + SHIFT + P : thay đổi cỡ chữ.
CTRL + SHIFT + >/< : tăng/giảm cỡ chữ ở kích cỡ kế tiếp.
SHIFT + F3 : thay đổi kiểu chữ (hoa_thường).
CTRL + SHIFT + A : chuyển đổi tất cả thành chữ hoa.
CTRL + B/I/U :bật tắt chế độ chữ đậm/nghiêng/gạch dưới nét đơn.
CTRL + SHIFT + W/D : bật tắt chế độ gạch dưới nét đơn/nét đứt.
CTRL + SHIFT + H : chuyển đổi dạng thức( ko gõ được chữ).
CTRL + SHIFT + += : đánh chỉ số trên (VD: M2)
CTRL + = : đánh chỉ số dưới (VD: H2SO4)
CTRL + SPACBAR : xóa định dạng thủ công.
CTRL + SHIFT + Z : xóa định dạng được thực hiện bằng phím tắt.
CTRL + SHIFT + Q : tạo font chữ Symbol.
CTRL + D : hiển thị hộp thoại Font.
SHIFT + F1 : xem kiểu định dạng cỡ chữ.
CTRL + SHIFT + F : chuyển đổi Font chữ.
CTRL + SHIFT + K/A : in chữ hoa nhỏ/lớn.
CTRL + SHIFT + C : sao chép thuộc tính vào Clipboard.
CTRL + SHIFT + V : dán định dạng từ Clipboard vào văn bản.
6. các phím tắt dùng cho hiệu chỉnh văn bản & hình ảnh:
SHIFT + END/HOME : đến cuối/đầu dòng.
SHIFT + PAGE UP/DOWN : lên /xuống 1 màn hình.
CTRL + SHIFT + END/HOME : đến cuối /dầu trang tài liệu.
CTRL + F3 : cắt vào Spike.
CTRL + C : copy chữ hình.
CTRL + SHIFT + F1 : dán nội dung Spike.
CTRL + SHIFT + C : sao chép dạng thức.
SHIFT + ENTER : dấu cách dòng.
CTRL + ENTER : dấu cách trang.
CTRL + SHIFT +ENTER : dấu cách cột.
7. các phím tắt dùng để in:
CTRL + P : in tài liệu.
CTRL + ALT + I em tài liệu trong chế độ in.
PAGE UP/DOWN : dịch chuyển lên xuống 1 trang.
8. các phím tắt sử dụng trong chế độ Outline:
SHIFT + N : giảm cấp toàn đoạn.
SHIFT + ALT + + : mở nội dung of đề mục đang hiện hành.
SHIFT + ALT + L :hiển thị dòng đầu tiên or toàn bộ nội dung văn bản.
9. các phím tắt dùng cho trường:
SHIFT + ALT + D/P/T: trường Date/Page/Time.
CTRL + F9 : trường rỗng.
CTRL + ALT + L : trường Listnum.
CTRL + ALT + F7 : cập nhật thông tin liên kết ttrong tài liệu.
F9 : cập nhật trường.
CTRL + 6 : ngắt liên kết trường.
F11 : đến trường kế tiếp.
SHIFT + F11 : lùi về trường trước đó.
CTRL +F11: khóa trường.
CTRL + SHIFT + F11 : mở khóa trường.
10. các phím tắt dùng trong Mailmarge:
SHIFT + ALT + K em thử kết quả Mailmarga.
SHIFT + CTRL + N : trộn tài liệu.
SHIFT + CTRL + M : in tài liệu đã trộn.
SHIFT + CTRL + H : hiệu chỉnh tài liệu Mailmarge.
11. các phím tắt dùng cho chú thích cuối trang trên tài liệu:
SHIFT + ALT + O/X : đánh dấu 1 mục của mục lục/bảng chỉ mục.
SHIFT + ALT + F/E : chèn chú thích cuối /dầu trang.
12. các phím tắt dùng cho web:
CTRL + K : chèn Hyperlink.
CTRL + C/V : sao chép/dán Hyperlink.
CTRL + S : sao lưu Hyperlink.
The post Phím tắt trong Word 2010 appeared first on Hồng Hà.
]]>The post Phím tắt trong Excel 2010 appeared first on Hồng Hà.
]]>Alt + các chữ cái có gạch chân: Vào các thực đơn tương ứng
Alt + Z: Chuyển chế độ gõ từ tiếng anh (A) sang tiếng việt (V)
Alt + <- : Hủy thao tác vừa thực hiện (nó giống lệnh Undo)
Ctrl + A : Bôi đen toàn bộ văn bản
Ctrl + B : Chữ đậm
Ctrl + I : Chữ nghiêng
Ctrl + U : Chữ gạch chân
Ctrl + C : Copy dữ liệu
Ctrl + X : Cắt dữ liệu
Ctrl + V : Dán dữ liệu copy hoặc cắt
Ctrl + F : Tìm kiếm cụm từ, số
Ctrl + H : Tìm kiếm và thay thế cụm từ
Ctrl + O : Mở file đã lưu
Ctrl + N : Mở một file mới
Ctrl + R : Tự động sao chép ô bên trái sang bên phải
Ctrl + S : Lưu tài liệu
Ctrl + W : Đóng tài liệu (giống lệnh Alt + F4)
Ctrl + Z : Hủy thao tác vừa thực hiện
Ctrl + 1 : Hiện hộp định dạng ô
Ctrl + 0 : Ẩn cột (giống lệnh hide)
Ctrl + shift + 0: Hiện các cột vừa ẩn (giống lệnh unhide)
Ctrl + 9 : Ẩn hàng (giống lệnh hide)
Ctrl + shift + 9: Hiện các hàng vừa ẩn (giống lệnh unhide
Ctrl + (-) : Xóa các ô
, khối ô hàng (bôi đen)
Ctrl + Shift + (+): Chèn thêm ô trống
Ctrl + Page up (Page down) : Di chuyển giữa các sheet
Ctrl + Shift + F: Hiện danh sách phông chữ
Ctrl + Shift + P: Hiện danh sách cỡ chữ
Alt + tab : Di chuyển giữa hai hay nhiều file kế tiếp
Shift + F2 : Tạo chú thích cho ô
Shift + F10 : Hiển thị thực đơn hiện hành (giống như ta kích phải chuộ)
Shift + F11 : Tạo sheet mới
The post Phím tắt trong Excel 2010 appeared first on Hồng Hà.
]]>The post 10 kỹ năng cần thiết trong công việc appeared first on Hồng Hà.
]]>
Làm Việc Nhóm
Kỹ năng làm việc nhóm là khả năng làm việc hiệu quả trong đội ngũ. Đó là việc có thể sử dụng đúng người để có được kết quả tốt nhất và luôn sẵn sàng để có thể lãnh đạo hoặc phối hợp làm theo.
5. Kỹ năng giải quyết vấn đề – Tính linh hoạt
Tính linh hoạt là khả năng thích nghi để giải quyết công việc chúng ta gặp phải hàng ngày trong kinh doanh lẫn đời sống riêng. Những người có khả năng xác định vấn đề, nghiên cứu giải pháp và đưa ra những quyết định hiệu quả đang càng ngày càng được ưa thích trong các ngành quản trị kinh doanh, tư vấn quản lý, hành chính công cộng, khoa học, y dược và kỹ thuật. Chắc chắn rằng, những người có khả năng phát hiện và nhanh chóng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả sẽ được trọng dụng
6. Tìm hiểu – thu thập thông tin
Quản lý thông tin là khả năng biết được nơi để có được thông tin cần thiết — để tìm kiếm, định vị, và thu thập nó. Điều này có thể liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực khác nhau, cho dù chúng là từ những con người hoặc từ các tài liệu trong thế giới rộng lớn của công nghệ.
7. Kỹ năng tự nhận thức bản thân

Tự quản lý là khả năng quản lý bản thân trong những tình huống cá nhân và chuyên nghiệp. Khi bạn tự nhận thức – quản lý bản thân, bạn có thể đáp ứng phù hợp đối với các tình huống căng thẳng. Kỹ năng nhận thức để phát triển bản thân, có thể được xem như là điều phải học tập suốt đời.
8. Chăm sóc khách hàng
Để chăm sóc khách hàng là khả năng quan tâm đến các nhu cầu và mối quan tâm của người khác, đặc biệt là những người bạn phục vụ. Hiểu được cách chăm sóc khách hàng là kỹ năng mà nhiều nhà tuyển dụng đang có nhu cầu cao. Trong đó, kỹ năng cốt lõi là khả năng ứng xử, quản lý con người và hệ thống; hiểu được nhu cầu của khách hàng và chuyển những nhu cầu trên thành cơ hội kinh doanh.
9. Phát triển cá nhân
Khoa học, y học và công trình ngày càng có được những thành tựu phát triển vĩ đại. Nhu cầu nguồn nhân tài về khoa học và số học là một thách thức của các ngành này trong tương lai. Ngoài ra, nắm bắt và thông thạo một ngoại ngữ là cơ hội giúp bạn tìm được công việc cần thiết. Những ngoại ngữ nổi bật hiện nay như: tiếng Anh, Nhật, Hàn, Pháp và Đức.
10. Kỹ năng quản lý doanh nghiệp
Tất cả các công ty đều có các vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ giữa các nhân viên. Sự thành công của công ty phần nhiều đến từ sự đoàn kết hợp sức từ toàn bộ tập thể công nhân viên công ty. Vì vậy, việc quản lý nhân lực, bộ phận nhân sự, bộ phận quản lý cần quan tâm, giải quyết và thỏa mãn các vấn đề của nhân viên trong phạm vi của mình. Người quản lý doanh nghiệp cần nắm bắt phương pháp thiết thực điều hành doanh nghiệp hiệu quả là điều hết sức quan trọng.
Phương diện này cần những kỹ năng cơ bản như: quản lý nhân lực, quản lý hệ thống, quản lý tài nguyên và tài chính. Ngoài ra cần nắm bắt nhu cầu của khách hàng đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tùy thuộc vào sự quan tâm, khả năng của bạn và yêu cầu nghề nghiệp mà bạn nên phát triển những kỹ năng nào ở trên. Tuy nhiên, trong thời buổi kinh tế khó khăn trước mắt, điều quan trọng là điểm lại những kỹ năng hữu dụng trong việc phát triển sự nghiệp. Nó không bao giờ là quá trể để phát triển các kỹ năng quan trọng. Hãy xem xét từ thực tế và nhẫn nại học hỏi
, bạn sẽ trở thành người làm việc mà mọi nhà tuyển dụng đều đang muốn tìm kiếm.
The post 10 kỹ năng cần thiết trong công việc appeared first on Hồng Hà.
]]>The post Học cách giao tiếp: Kiên nhẫn lắng nghe appeared first on Hồng Hà.
]]>Vận dụng cụ thể kỹ năng lắng nghe:
1. Chú ý đến sở thích của người khác.
Điều này thật sự quan trọng trong giao tiếp. Hãy nói với người mà bạn đang giao tiếp điều mà họ thích. Nó chứng tỏ rằng bạn thật sự quan tâm đến họ, bạn coi trọng họ và như thế là bạn đã thành công được một nửa rồi.
– Bất cứ khi nào một ai đó đề cập đến một kinh nghiệm hay sở thích nào đó, thay vì nhảy bổ vào cướp lời họ, “Tôi cũng đã làm rồi” hay “Tưởng gì, tôi biết hết rồi”, hãy kiên nhẫn để người khác thỏa thích nói về vấn đề đó. Bạn hãy để họ thoải mái kể lể về chuyện của họ, rồi khi thời điểm thích hợp đến, bạn hãy đề cập rằng mình cũng cùng chung sở thích đó với họ.
2. Tập trung chú ý vào người nói.
Trong khi giao tiếp ai cũng có nhu cầu được người khác lắng nghe. Để cuộc giao tiếp được khởi đầu tốt bạn hãy bắt đầu bằng một thái độ tích cực và nhẹ nhàng. Bạn có thể đứng / ngồi đồi diện với người nói nhưng hãy đảm bảo bạn đang tập trung vào điều họ nói với bạn. Điều này được thể hiện rất rõ qua ánh mắt của bạn. Thế nên hãy duy trì việc giao tiếp bằng ánh mắt một cách thường xuyên, với nụ cười nhẹ nhàng thoải mái cũng để người nói hiểu rằng bạn đang lắng nghe họ nói. Nếu câu chuyện bạn đang kể mà có người lắng nghe như thế thì thật thích phải không?

3. Đặt câu hỏi.
Đó không chỉ là cách bạn phản hồi lại những gì bạn đã nghe được mà là cách thức bạn khuyến khích để họ nói nhiều hơn. Hãy sử dụng các câu hỏi mở, ngắn gọn để tương tác lại với người nói để họ biết là câu chuyện họ kể gây hứng thú với bạn. Hơn nữa việc đặt câu hỏi này cũng là cách để bạn thu thập thêm thông tin về họ hoặc về câu chuyện mà họ đang kể. Nhưng đừng quá lạm dụng bạn nhé, nếu không bạn sẽ trở thành một kẻ tò mò quá đấy!
– Đừng là người chỉ biết “ừ – à” vô thức. Hãy nói những câu hoàn chỉnh như “Tôi hiểu”, “Tôi hiểu ý cậu là gì”, “Đó thật là tuyệt”, “Vâng, đó là điều rất đáng làm”… Khi đáp lại bằng những câu hoàn chỉnh thay cho tiếng “ừ”, cho thấy bạn không chỉ là một người đồng cảm mà còn chứng tỏ rằng bạn thật sự hiểu những gì họ nói.
4. Hưởng ứng.
Chỉ cần một cái gật đầu nhẹ, một cái nheo mắt đúng chỗ, hay một cử chỉ ngạc nhiên sẽ giúp cuộc trò chuyện thêm hứng thú. Đừng tiếc rẻ một nụ cười gặp một câu chuyện vui bạn nhé. Cũng nên chú ý đến tư thế nữa, bạn có thể hơi ngả người về phía người nói hoặc ngồi xích lại gần…Đừng ngắt lời người nói lúc họ đang nói hãy cố gắng chờ đợi để trao đổi những phản hồi của mình.
Bất cứ ai cũng muốn được quan tâm, được lắng nghe và được chia sẻ. Đôi khi sự hời hợt, hoặc do ít nghĩ, ít biết lắng nghe khiến bạn bè xa cách bạn. Hãy thay đổi thói quen từ bây giờ nhé. Tập lắng nghe tâm sự của bạn bè, bạn sẽ hiểu hơn về quan điểm, suy nghĩ và tính cách của họ, từ đó biết thêm được nhiều điều… Hơn nữa, khi lắng nghe người khác tức là bạn đã tập cho bản thân sự kiên nhẫn
, hết lòng vì mọi người… (Không phải ai cũng biết lắng nghe, do vậy, khi bạn đã kiên nhẫn ngồi im để ai đó trút hết phiền muộn trong lòng, nghĩa là bạn đã được tin tưởng và được quý mền rồi đó). Hãy bắt đầu học cách “kiên nhẫn lắng nghe” và tạo dựng nó thành một thói quen thuần thục trong giao tiếp, chắc chắn rằng, hầu hết mọi người, từ những người mới quen cho đến gia đình, bạn bè, đối tác sẽ vui vẻ dành cho bạn sự quý trọng, tràn đầy thân thiện và yêu mến.
The post Học cách giao tiếp: Kiên nhẫn lắng nghe appeared first on Hồng Hà.
]]>The post Kỹ năng giải quyết vấn đề appeared first on Hồng Hà.
]]>Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills) là một trong những kỹ năng rất cần thiết trong học tập và làm việc bởi cuộc sống là một chuỗi những vấn đề đòi hỏi chúng ta phải giải quyết mà không vấn đề nào giống vấn đề nào và cũng không có một công thức chung nào để giải quyết mọi vấn đề. Điều quan trọng là chúng ta phải tự trang bị cho mình những hành trang cần thiết để khi vấn đề nảy sinh thì chúng ta có thể vận dụng những kỹ năng sẵn có để giải quyết vấn đề đó một cách hiệu quả nhất.
Trong công việc hằng ngày, khi có một vấn đề nào đó xảy ra, chắc hẳn bạn thường phân vân không biết giải quyết theo hướng nào. Cũng có khi bạn thấy mệt mỏi và bị stress vì cứ phải gặp những vấn đề lặp đi lặp lại, từ những vụ việc đơn giản đến phức tạp. Nếu bạn đã và đang trong hoàn cảnh vừa nêu, thì đã đến lúc bạn phải nhìn lại mình và hãy trang bị cho mình kỹ năng giải quyết vấn đề cần thiết. Chuyên đề KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ – PROBLEM SOLVING SKILLS sẽ giúp bạn giải được bài toán đó bằng việc cung cấp những thông tin hữu ích nhất để bạn có thể trau dồi thêm khả năng giải quyết vấn đề của mình.
Thông thường để giải quyết một vấn đề, về cơ bản có các bước sau:
1. Nhìn nhận và phân tích:
Trước khi bạn cố tìm hướng giải quyết vấn đề, bạn nên xem xét kỹ đó có thật sự là vấn đề đúng nghĩa hay không, bằng cách tự hỏi: chuyện gì sẽ xảy ra nếu…?; hoặc: giả sử như việc này không thực hiện được thì…? Bạn không nên lãng phí thời gian và sức lực vào giải quyết nếu nó có khả năng tự biến mất hoặc không quan trọng.
2. Xác định chủ sở hữu của vấn đề:
Không phải tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến bạn đều do chính bạn giải quyết. Nếu bạn không có quyền hạn hay năng lực để giải quyết nó, cách tốt nhất là chuyển vấn đề đó sang cho người nào có thể giải quyết.
Có một câu nói nửa đùa nửa thật nhưng cũng đáng để bạn lưu ý: “Nhiệt tình cộng với thiếu hiểu biết đôi khi thành phá hoại”.

3. Hiểu vấn đề:
Chưa hiểu rõ nguồn gốc của vấn đề sẽ dễ dẫn đến cách giải quyết sai lệch, hoặc vấn đề cứ lặp đi lặp lại. Nếu nói theo ngôn ngữ của y khoa, việc “bắt không đúng bệnh” thì chỉ trị triệu chứng, chứ không trị được bệnh, đôi khi “tiền mất, tật mang”. Bạn nên dành thời gian để lấy những thông tin cần thiết liên quan vấn đề cần giải quyết, theo gợi ý sau: Mô tả ngắn gọn vấn đề; nó đã gây ra ảnh hưởng gì?; Vấn đề xảy ra ở đâu?; Lần đầu tiên nó được phát hiện ra là khi nào?; Có gì đặc biệt hay khác biệt trong vấn đề này không?
Ở đây ta cần tìm hiểu vấn đề bằng cách đặt ra những câu hỏi.
– Tính chất của vấn đề (khẩn cấp, quan trọng)?
– Yêu cầu chỉ thị của cấp trên là gì?
– Nguồn lực để giải quyết vấn đề?
– Vấn đề này có thuộc quyền giải quyết của mình hay không?
– Bản chất của vấn đề là gì?
– Những đòi hỏi của vấn đề?
– Mức độ khó – dễ của vấn đề?
4. Chọn giải pháp:
Sau khi đã tìm hiểu được cội rễ của vấn đề
, nhà quản lý sẽ đưa ra được rất nhiều giải pháp để lựa chọn. Yếu tố sáng tạo sẽ giúp nhà quản lý tìm được giải pháp đôi khi hơn cả mong đợi. Cần lưu ý là một giải pháp tối ưu phải đáp ứng được ba yếu tố: có tác dụng khắc phục giải quyết vấn đề dài lâu, có tính khả thi, và có tính hiệu quả.
5. Thực thi giải pháp:
Khi bạn tin rằng mình đã hiểu được vấn đề và biết cách giải quyết nó, bạn có thể bắt tay vào hành động. Để đảm bảo các giải pháp được thực thi hiệu quả, nhà quản lý cần phải xác định ai là người có liên quan, ai là người chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi giải pháp, thời gian để thực hiện là bao lâu, những nguồn lực sẵn có khác.v.v…
6. Đánh giá:
Sau khi đã đưa vào thực hiện một giải pháp, bạn cần kiểm tra xem cách giải quyết đó có tốt không và có đưa tới những ảnh hưởng không mong đợi nào không. Những bài học rút ra được ở khâu đánh giá này sẽ giúp bạn giảm được rất nhiều “calori chất xám” và nguồn lực ở những vấn đề khác lần sau.
Có thể bạn sẽ cảm thấy hơi rườm rà nếu làm theo các bước trên. Vạn sự khởi đầu nan. Lần đầu tiên áp dụng một kỹ năng mới bao giờ cũng đòi hỏi sự kiên nhẫn và quyết tâm của bạn. Nếu bạn thường xuyên rèn luyện, thì dần dần kỹ năng giải quyết vấn đề sẽ trở thành phản xạ vô điều kiện.
Sau khi đã đưa vào thực hiện một giải pháp, bạn cần kiểm tra xem cách giải quyết đó có tốt không và có đưa tới những ảnh hưởng không mong đợi nào không. Những bài học rút ra được ở khâu đánh giá này sẽ giúp bạn giảm được rất nhiều “calori chất xám” và nguồn lực ở những vấn đề khác lần sau.
Các bước trên đây được xây dựng trên một nguyên tắc mà người ta tạm gọi là KOALA.
K: Thông tin (Knowledge)
O: Mục tiêu (Objectives)
A: Phương án ( Alternatives):
L: Đánh giá và lựa chọn (Look ahead)
A: Hành động (Action)
The post Kỹ năng giải quyết vấn đề appeared first on Hồng Hà.
]]>